Theo Hội Y học Dự phòng Việt Nam, có khoảng 10 – 20% người trong cộng đồng là “người lành” mang vi khuẩn não mô cầu. Tỷ lệ này cao hơn ở nhóm thanh thiếu niên và người trẻ (25 – 32%), thậm chí có thể lên tới 50% trong các đợt dịch.
Dù không phải tất cả người mang vi khuẩn đều phát bệnh, nhưng vẫn có thể trở thành nguồn lây, làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch.

Cần tiêm phối hợp các vắc xin não mô cầu để bao phủ và bảo vệ toàn diện
ẢNH: VNVC
Bác sĩ chuyên khoa 1 Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết nguồn lây duy nhất của vi khuẩn não mô cầu là con người, qua đường hô hấp khi tiếp xúc với giọt bắn từ dịch tiết mũi họng.
Điểm nguy hiểm là sau khi xâm nhập cơ thể, vi khuẩn có thể “cư trú” lâu tại hầu họng mà không gây triệu chứng rõ ràng, hoặc chỉ biểu hiện nhẹ như ho, sốt kéo dài, đau nhức nên dễ bị nhầm với cảm lạnh, viêm hô hấp thông thường và bị bỏ qua. Trong thời gian đó, vi khuẩn vẫn tồn tại, âm thầm lây lan trong cộng đồng và thường chỉ được phát hiện khi bệnh đã nặng.
Đáng lưu ý, thời gian mang vi khuẩn có thể kéo dài trung bình khoảng 9 tháng và gần 40% trường hợp kéo dài trên 16 tháng.
Nên tiêm phối hợp các vắc xin não mô cầu
Theo bác sĩ Chính, tại Việt Nam, 5 nhóm huyết thanh gây bệnh não mô cầu là A, B, C, Y, W đang lưu hành đồng thời, khiến việc kiểm soát bệnh thêm phức tạp.
Để phòng bệnh, bác sĩ khuyến cáo cần thực hiện tốt các việc như:
- Thường xuyên rửa tay.
- Đeo khẩu trang nơi công cộng.
- Ăn uống đủ chất.
- Tập luyện để nâng cao sức đề kháng.
Hiện nay, phòng ngừa bệnh não mô cầu bằng tiêm vắc xin là biện pháp chủ động và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, do mỗi loại vắc xin phòng được một hoặc một số nhóm nhất định và không có miễn dịch chéo, nên cần tiêm phối hợp các vắc xin não mô cầu nhóm B và nhóm A, C, Y, W để bao phủ và bảo vệ toàn diện. Vắc xin cần từ 2 – 3 tuần để tạo kháng thể bảo vệ và cần tiêm đầy đủ số mũi mới bảo vệ tối ưu.
Khi có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, cổ cứng, nổi ban xuất huyết, người dân cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để khám và điều trị kịp thời, tránh biến chứng nặng và nguy cơ tử vong.







