Hà Nội mùa thu năm ấy… mãi âm vang trong tâm hồn ta

Tái hiện lịch sử trong những bước chân ngày sơ duyệt diễu binh, diễu hành Những đêm trắng của công nhân môi trường cho niềm vui trọn vẹn ngày Đại lễ Người Hà Nội sẵn sàng chào đón bạn bè trong niềm vui chung của dân tộc

Khí thế Hà Nội trong mùa thu lịch sử

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), tình hình cách mạng ở Hà Nội chuyển biến nhanh chóng. Dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, lực lượng cách mạng từng bước được xây dựng cả về chính trị lẫn vũ trang. Không khí đấu tranh lan rộng khắp thành phố. Mỗi cuộc mít tinh, mỗi tờ truyền đơn, mỗi đội tự vệ bí mật luyện tập đều là những nấc thang chuẩn bị cho ngày quyết định. Có thể nói, bầu không khí cách mạng khi ấy dồn nén như một cơn bão, chỉ chờ thời khắc bùng nổ.

Đêm 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Tin tức truyền về Hà Nội như một tiếng kèn xung trận. Tối 14 và ngày 15/8, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Xứ ủy Bắc Kỳ họp khẩn, bàn việc khởi nghĩa ở Đồng bằng Bắc Bộ. Vấn đề Hà Nội được đặc biệt cân nhắc bởi nơi đây vẫn còn hơn một vạn quân Nhật, trang bị vũ khí hiện đại, sẵn sàng nổ súng nếu bị dồn ép. Nhưng trước khí thế cách mạng đang lên, sự thận trọng không đồng nghĩa với do dự. Một Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội được thành lập để trực tiếp chỉ đạo, với quyết tâm biến Hà Nội thành trung tâm bùng nổ của cả nước.

Hà Nội Mùa Thu Năm Ấy… Mãi Âm Vang Trong Tâm Hồn Ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. (Ảnh tư liệu)

Ngay tối 15/8, Hội nghị quân sự bất thường diễn ra tại chùa Hà (Dịch Vọng). Hội nghị thẳng thắn nhìn vào thực tế: lực lượng cách mạng đông đảo về quần chúng nhưng mỏng về vũ khí, chỉ có vài chục khẩu súng trường và súng ngắn, còn lại chủ yếu là vũ khí thô sơ. Trước kẻ thù có ưu thế quân sự áp đảo, chủ trương được xác định là dựa vào sức mạnh quần chúng, tránh đối đầu trực tiếp với quân Nhật, đồng thời sẵn sàng đối phó khi tình thế buộc phải. Đây chính là sự sáng tạo trong chỉ đạo cách mạng: lấy chính trị áp đảo, lấy khí thế quần chúng làm vũ khí, chứ không đặt nặng chuyện đọ sức bằng súng đạn.

Thực tế đã chứng minh, chủ trương ấy hoàn toàn đúng đắn. Ngày 16/8, truyền đơn, biểu ngữ Việt Minh tràn ngập khắp phố phường, khích lệ tinh thần cách mạng. Chiều 17/8, khi Tổng hội Viên chức định tổ chức mít tinh ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, Đảng bộ Hà Nội đã khéo léo biến nó thành cuộc biểu dương lực lượng của Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập” vang dội, hàng vạn quần chúng tuần hành qua các phố, khí thế sục sôi đến mức quân Nhật chỉ còn biết đứng nhìn. Có thể nói, đó là màn “tổng duyệt” hùng tráng, một cuộc tập dượt trên thực địa, tạo niềm tin sắt đá rằng thời cơ đã chín muồi.

Và đúng vậy, ngay tối 17/8, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ và Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội quyết định phát động khởi nghĩa. Kế hoạch rõ ràng: sáng 19/8 sẽ tổ chức mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, sau đó biến thành biểu tình, rồi tiến tới chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn. Lực lượng vũ trang sẽ là mũi xung kích, nhưng sức mạnh quyết định vẫn là hàng chục vạn quần chúng đang nóng lòng xuống đường. Chiến lược được xác định: không tước vũ khí của quân Nhật, không đánh vào nơi chúng đồn trú đông, để chúng “án binh bất động”, trong khi cách mạng giành chính quyền từ tay chính quyền bù nhìn.

Ngày 18/8, Hà Nội rạo rực như đứng trước một cơn bão lớn. Truyền đơn, cờ đỏ, khẩu hiệu xuất hiện dày đặc. Người dân từ ngoại thành, từ các làng mạc ngoại vi nô nức kéo về trung tâm. Sáng 19/8, từ tờ mờ sáng, từng đoàn người đã đổ về quảng trường Nhà hát Lớn. Đến giờ mít tinh, biển người đỏ rực cờ, tiếng hô vang trời, hơn 20 vạn con người cùng chung một nhịp đập. Đại diện Việt Minh công bố tuyên ngôn, kêu gọi nhân dân đứng lên giành chính quyền. Chỉ sau ít phút, mít tinh biến thành biểu tình, biểu tình thành hành động cách mạng trực tiếp. Các đoàn chia thành mũi tiến công chiếm Phủ Khâm sai, Sở Cảnh sát, Bưu điện, kho bạc… Tất cả diễn ra như một dòng thác không gì cản nổi. Quân Nhật vẫn im lặng, không dám nổ súng.

Tám thập kỷ đã đi qua, nhưng ký ức về ngày 2/9/1945 vẫn lấp lánh trong tâm khảm của dân tộc. Lễ đài gỗ giản dị năm xưa nay chỉ còn trong tư liệu, song hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ và biển người hô vang “Việt Nam độc lập muôn năm” vẫn sống động như mới hôm qua. Từ khoảnh khắc Bác Hồ đọc vang lời Tuyên ngôn, cả dân tộc đã tìm thấy sức mạnh để đứng lên, dựng xây một đất nước tự do.

Chiều cùng ngày, hầu hết các cơ quan quan trọng đã thuộc về cách mạng. Từ Phủ Khâm sai, ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ gọi điện báo tin thắng lợi cho các tỉnh, thúc giục khởi nghĩa đồng loạt. Hà Nội đã thành công, và sự thành công ấy ngay lập tức trở thành hiệu lệnh cổ vũ cả nước vùng dậy.

Lan tỏa ra cả nước vùng lên giành chính quyền

Thắng lợi ở Hà Nội không chỉ có ý nghĩa quân sự, chính trị trước mắt. Nó là một cú đánh chí tử vào bộ máy chính quyền tay sai, một lời tuyên bố đanh thép rằng chế độ thực dân phong kiến đã cáo chung. Nhưng trên hết, nó là bài học lớn về nghệ thuật lãnh đạo cách mạng. Chỉ trong thời gian chuẩn bị ngắn ngủi, với lực lượng vũ trang còn hạn chế, Đảng và Việt Minh đã biết khơi dậy, tập hợp và phát huy đến mức tối đa sức mạnh của quần chúng. Đó là bài học về việc nắm bắt thời cơ, về cách kết hợp mềm dẻo giữa chính trị và vũ trang, giữa mưu trí và dũng cảm.

Chính thắng lợi ở Hà Nội đã mở đường cho các thành phố lớn khác như Huế, Sài Gòn nhanh chóng giành chính quyền. Như đồng chí Trường Chinh từng khẳng định, thắng lợi ở miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, có tính chất quyết định đối với toàn bộ cuộc Tổng khởi nghĩa. Nó không chỉ khích lệ tinh thần, mà còn đặt ra phương thức khởi nghĩa sáng tạo: giành chính quyền mà ít đổ máu, tận dụng sức mạnh chính trị áp đảo của nhân dân để làm tê liệt kẻ thù.

Ngày 19/8/1945 vì thế trở thành một mốc son rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Từ đây, Hà Nội không chỉ là trái tim chính trị, mà còn là biểu tượng của khát vọng độc lập, tự do.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quyết đoán trong những giờ phút then chốt và lòng tình yêu nước chảy trong huyết quản của người dân vốn đã bị sống qua lâu trong đêm dài nô nệ. Khởi nghĩa Hà Nội là minh chứng sinh động nhất cho nghệ thuật chớp thời cơ. Lịch sử đã trao cho dân tộc ta một cơ hội ngàn năm có một, và Đảng đã dẫn dắt nhân dân tận dụng cơ hội ấy để làm nên chiến thắng huy hoàng.

Tám thập kỷ đã trôi qua, ký ức về ngày 19/8 vẫn còn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở chúng ta rằng sức mạnh nhân dân là vô địch, rằng một khi lòng dân đã đồng lòng, không thế lực nào có thể ngăn cản. Nó cũng gửi gắm một thông điệp cho hiện tại: muốn vượt qua thử thách, phải biết phát huy trí tuệ tập thể, phải biết kết hợp linh hoạt các nguồn lực, phải dám quyết định đúng lúc. Bởi thời cơ, như trong lịch sử, không chờ đợi ai.

Giờ phút lịch sử chấm dứt 80 năm nô lệ

Hà Nội Mùa Thu Năm Ấy… Mãi Âm Vang Trong Tâm Hồn Ta
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, Tổng khỏi nghĩa Tháng Tám thành công ở Hà Nội mở ra làn sóng cách mạng khắp cả nước vùng lên giành chính quyền về tay Nhân dân. (Ảnh tư liệu)

Chỉ hơn 12 ngày sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công tại Hà Nội, đúng 14 giờ ngày 2/9/1945, các thành viên của Chính phủ lâm thời bước lên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình trong tiếng nhạc Tiến Quân ca hùng tráng, lá cờ đỏ sao vàng được từ từ kéo lên. Trong sự trang nghiêm nhưng vô cùng xúc động, Chủ tịch Hồ Chí Minh trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào, với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau Lễ Tuyên ngôn độc lập, Chính phủ chính thức được thành lập.

Chiều 2/9/1945, Lễ Tuyên ngôn độc lập kết thúc trong không khí thiêng liêng phấn khởi. Buổi lễ với quy mô cả triệu người đã được bảo vệ an toàn tuyệt đối, biển người tại quảng trường Ba Đình lại cuồn cuộn đổ về các con phố với hoa, cờ đỏ sao vàng. Muôn người như một cùng hô vang khẩu hiệu: Ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, Việt Nam độc lập muôn năm.

Tám thập kỷ đã đi qua, nhưng ký ức về ngày 2/9/1945 vẫn lấp lánh trong tâm khảm của dân tộc. Lễ đài gỗ giản dị năm xưa nay chỉ còn trong tư liệu, song hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ và biển người hô vang “Việt Nam độc lập muôn năm” vẫn sống động như mới hôm qua. Từ khoảnh khắc Bác Hồ đọc vang lời Tuyên ngôn, cả dân tộc đã tìm thấy sức mạnh để đứng lên, dựng xây một đất nước tự do.

Hôm nay, mỗi bước chân ngang qua Quảng trường Ba Đình, nơi có Lăng Chủ tịch uy nghi, ta như được nghe lại tiếng hỏi giản dị mà thiêng liêng: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Câu hỏi ấy không chỉ gợi nhớ giây phút khai sinh một quốc gia độc lập, mà còn trở thành lời nhắn gửi vượt thời gian: Hãy giữ gìn và phát huy nền độc lập ấy bằng trí tuệ, bằng khát vọng, bằng tinh thần đoàn kết. Lịch sử là kết tinh của đồng lòng và hy sinh, để hôm nay chúng ta luôn tự hào ngẩng cao đầu giữa bầu trời độc lập, cùng nhau sắt son một lòng theo Đảng, đoàn kết một lòng, không ngừng nỗ lực quyết tâm đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập và thịnh cường, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như mong ước của Người!

Lễ đài Ba Đình – nơi vang lên khúc tráng ca độc lập

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trong không khí trang nghiêm nhưng dạt dào cảm xúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đằng sau giờ phút thiêng liêng ấy là bao nỗ lực thầm lặng chuẩn bị: từ lễ đài gỗ dựng vội trong đêm, đến micro phát ra tiếng nói của Người, và cả sự góp sức của đồng bào Hà Nội. Mỗi chi tiết đều khắc sâu trong ký ức dân tộc, trở thành chứng tích bất diệt của ngày độc lập.

Hà Nội Mùa Thu Năm Ấy… Mãi Âm Vang Trong Tâm Hồn Ta
Quảng trường Ba Đình chuẩn bị cho Đại lễ Quốc khánh 2/9.

Khoảnh khắc Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử mãi in đậm trong trái tim, khối óc của hàng triệu người dân Việt Nam. Theo tư liệu của Bảo tàng lịch sử quốc gia, Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ gọi tên là Puginier. Tên Quảng trường Ba Đình là do bác sĩ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng Thành phố (từ ngày 20/7 đến 19/8/1945) đặt tên để tưởng nhớ về dải đất Nga Sơn – Thanh Hóa nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Ba Đình anh dũng, kiên cường của nhân dân Việt Nam chống lại thực dân Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX.

Sau khi Tổng khởi nghĩa trong cả nước giành thắng lợi, Bác Hồ đã ấn định ngày tổ chức Lễ Tuyên bố độc lập là 2/9/1945. Cũng chính Bác Hồ đã chọn Quảng trường Ba Đình để tổ chức buổi Lễ trọng đại của dân tộc. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng, được coi như ngày Tết Độc lập của dân tộc, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ mọi phía, đặc biệt là sự chuẩn bị một lễ đài thật đẹp, trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình.

Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy, và tác giả của công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập đó chính là Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh.

Cuộc tổng khởi nghĩa 19/8/1945 ở Hà Nội là trang sử chói lọi, một bản hùng ca của lòng yêu nước, trí tuệ và bản lĩnh dân tộc. Ngày hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta không chỉ bồi hồi tưởng nhớ, mà còn thấy mình có trách nhiệm gìn giữ, phát huy những bài học quý báu ấy cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới.

Sáng ngày 1/9/1945, Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh được cấp trên giao trọng trách thiết kế và tham gia dựng một Lễ đài ở vườn hoa Ba Đình, lễ đài có thể giản dị nhưng phải trang nghiêm và bên trên có thể đứng được 30 người. Sau những phút giây rất nhanh tính toán, ông Ngô Huy Quỳnh đã chọn phương án dựng lễ đài bằng gỗ theo cách đóng đinh (vì thời gian gấp) và bọc lụa xung quanh trên vàng dưới đỏ để tạo dáng mỹ thuật, vừa nhanh vừa dễ làm.

Thế là 12h30’ ngày 1/9/1945, Lễ đài bắt đầu được thi công. Nơi dựng Lễ đài là bồn cỏ tròn, trước các cổng cuốn tròn tỳ trên hệ thống cột kiến trúc theo kiểu Toscan (Pháp). Công trình này màu vàng nhạt như hai tay ôm lấy phía sau lễ đài, cùng với khối cây cổ thụ màu xanh như đóng vai trò “trẩm” theo cách nhìn phong thủy mà bà con nhân dân quen thuộc.

Là người thiết kế nhưng vì thời gian quá gấp nên Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh trực tiếp cùng mọi người trong Ban Tổ chức thi công Lễ đài. Không khí những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9/1945 sôi sục khí thế cách mạng, người nào cũng muốn đóng góp sức người sức của cho cách mạng. Đồng bào Hà Nội vui lòng cho mượn gỗ và vải, gỗ cần bao nhiêu cứ lấy, vải thì cố giữ cho đừng rách còn cần “pha” ra thì tùy theo yêu cầu.

Cùng tài năng và sự nỗ lực, ông và các cộng sự đã hoàn thành Lễ đài trước rạng sáng ngày 2/9. Màu đỏ, vàng của Lễ đài với hai bình hương hai bên, cùng màu của cờ đỏ sao vàng trên cột cờ Lễ đài, tất cả cùng nổi lên rực rỡ và sống động.

Chiếc micro phát lời Tuyên ngôn độc lập là chiếc micro bằng than chì, mạ kền trắng cao 30cm, phần trên có hình tròn, đường kính 8cm, giữa có mạng sắt, đế tròn rộng 16cm đặt trên lễ đài, truyền tiếng nói ấm áp của Bác trong giờ phút thiêng liêng đọc bản Tuyên ngôn độc lập đến đồng bào quốc dân. Hơn 80 năm trôi qua, chiếc micro chứng nhân lịch sử ấy hiện vẫn được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Được giao nhiệm vụ chuẩn bị âm thanh cho lễ Độc lập là ông Nguyễn Dực. Lúc diễn ra buổi lễ, ông Nguyễn Dực thường trực ngay dưới gầm lễ đài, theo dõi dòng điện, tiếng loa. Trong hồi ký, ông viết: “Khi vừa chào cờ xong, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn vào ba chiếc micro, rồi khẽ thổi vào chiếc micro bốn mặt, nhãn hiệu Philips đặt ở giữa, đèn báo trên máy đỏ lên, lập tức có tiếng “phù” từ các loa dội lại khá to. Người lùi lại một chút rồi nói: Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Phía dưới lập tức vang lên: Có ạ!”…

Trong buổi lễ, lực lượng Liêm phóng và Cảnh sát Bắc Bộ được bố trí bảo vệ từ vòng trong đến vòng ngoài khu vực khán đài cũng như khu vực quần chúng nhân dân dự mít tinh. Trong các thước phim, bức ảnh ghi lại thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945, dễ dàng nhận thấy có gần 20 chiến sĩ tham gia bảo vệ lễ đài. Đây chính là lực lượng vũ trang, với vũ khí chỉnh tề, bảo vệ an toàn cho Bác và các đồng chí lãnh đạo cách mạng nước ta trên khán đài khi đó.

80 năm sau, đúng tại nơi này, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành phố Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đúng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Bảo Thoa

Để lại một bình luận