1. Vị tướng đầu tiên thắng giặc từ phương Tây là ai?

  • Ông Ích Khiêm

    0%

  • Nguyễn Công Trứ

    0%

  • Nguyễn Tri Phương

    0%

  • Nguyễn Trung Trực

    0%

    Chính xác

    Nguyễn Tri Phương (1800-1873) là một đại danh thần thời Nguyễn, cũng là vị tướng đầu tiên thắng giặc từ phương Tây.

    Dưới con mắt của vua Tự Đức, Nguyễn Tri Phương là bề tôi trung thành, võ tướng trí dũng song toàn và thanh liêm. Ông được giao cho nhiều trọng trách. Ông đi rất nhiều nơi, trong đó có cả những vùng thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ để học hỏi kinh nghiệm chiến đấu. Ông cũng trải qua nhiều trận mạc với những năm tháng chống giặc Xiêm và “thổ phỉ” ở phía Nam.

    2. Ông có xuất thân thế nào?

    • Học vấn cao, nỗ lực thi đỗ khoa bảng

      0%

    • Xuất thân nông dân, không theo khoa cử

      0%

    • Con của một võ tướng, được huấn luyện quân sự từ bé

      0%

    • Xuất thân gia đình thương nhân giàu có, có cơ hội học ở nước ngoài

      0%

      Chính xác

      Nguyễn Tri Phương là người con xứ Huế, xuất thân từ gia đình làm nông nghiệp và làm nghề thợ mộc ở làng Đường Long. Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hữu Tâm, nguyên Giám đốc Thư viện Viện Sử học cho biết: Nếu như các quan đại thần của triều hầu hết đều xuất thân từ gia đình khoa bảng hoặc quyền quý thì Nguyễn Tri Phương lại xuất thân trong gia đình nông dân làm ruộng, là trường hợp khá đặc biệt trong lịch sử.

      Dù không phải thành đạt theo con đường khoa cử, nhưng với tài năng của mình, Nguyễn Tri Phương đã làm nên sự nghiệp, trở thành một vị đại danh thần của triều Nguyễn.

      3. Ông làm quan dưới mấy triều vua Nguyễn?

      • 1

        0%

      • 2

        0%

      • 3

        0%

      • 4

        0%

        Chính xác

        Ở tuổi 20, Nguyễn Tri Phương đăng ký làm thư lại ở huyện Phong Điền. Với sự thông minh xuất chúng, ông được chuyển đến Bộ Hộ của triều đình Huế. Hết thời vua Minh Mạng, sang thời vua Thiệu Trị, vị danh thần này tiếp tục được đề bạt trở thành người đứng đầu nhiều địa phương Nam Kỳ, Trung Kỳ và trong triều đình, ông đã được thăng chức tới hàm Thượng thư Bộ công.

        Sau khi vua Thiệu Trị mất, ông được đình thần tôn làm Phụ chính Đại thần. Năm 1850, vua Tự Đức phê chuẩn cải tên ông là Nguyễn Tri Phương. Sau đó ông được sung chức Khâm sai Tổng thống Quân vụ Đại thần nhiều tỉnh. 

        Năm 1853, ông được trở thành Đông các Đại học sĩ, rồi lãnh chức Kinh lược sứ Nam Kỳ. Trong thời gian này, ông có công lập được nhiều đồn điền, khai khẩn đất hoang, dân cư ở địa phương được an cư lập nghiệp.

        Làm quan dưới 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Nguyễn Tri Phương không chỉ là một vị quan có uy thế mà ông còn được giao trọng trách điều binh khiển tướng trong nhiều trận đánh. Với tài năng, sức vóc của mình, ông đều được các đời vua trọng dụng, tin tưởng.

        4. Nguyễn Tri Phương chỉ huy những mặt trận chống Pháp nào?

        • Hà Nội – Bến Tre – Vĩnh Long

          0%

        • Hà Nội – Vĩnh Long – Đà Nẵng

          0%

        • Hà Nội – Đà Nẵng – Gia Định

          0%

        • Hà Nội – Gia Định – Huế

          0%

          Chính xác

          Trong 53 năm làm quan, ông chỉ huy quân sĩ tác chiến 6 lần. Trong đó, có 5 lần ông đều giữ chức Tổng đốc quân vụ (tức Tổng chỉ huy mặt trận). Nhưng 3 lần cầm quân oanh liệt nhất là khi chống thực dân Pháp ở Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). 

          Dưới thời vua Tự Đức, Nguyễn Tri Phương rất được trọng dụng và tin tưởng. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và địa điểm tấn công đầu tiên là bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp. Chiến thắng ở Đà Nẵng đã đưa ông trở thành vị tướng đầu tiên đánh bại quân xâm lược từ phương Tây.

          Năm 1860, ông tiếp tục được giao trọng trách cầm quân chống Pháp ở Gia Định. Lần này, ông bị thương, thành Gia Định mất nên bị giáng chức. Dù vậy, vua vẫn tin tưởng, giao nhiệm vụ khác vì chiến lược và lòng trung kiên của ông.

          Sau đó, Nguyễn Tri Phương được cử làm Kinh lược sứ Bắc Kỳ để đối phó với thực dân Pháp đang lăm le đánh thành Hà Nội.

          5. Trong trận giữ thành Hà Nội, ông đã phản ứng ra sao trước lời đề nghị chữa thương của Pháp?

          • Tuyệt thực, ung dung chấp nhận cái chết vì nghĩa

            0%

          • Giả vờ đồng ý để tìm cơ hội trốn thoát

            0%

          • Đồng ý chữa thương nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu

            0%

          • Đề nghị được gặp vua trước khi chữa trị

            0%

            Chính xác

            Năm 1873, Pháp phái đại uý Francis Garnier chỉ huy 171 binh sĩ tinh nhuệ và hai pháo thuyền ra Bắc chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương quyết giữ thành, nhưng ngày 20/11, quân Pháp bất ngờ tấn công, dùng pháo bắn phá cổng thành phía Nam, nhanh chóng tràn vào. Sau một giờ, thành thất thủ, hơn 2.000 lính nhà Nguyễn bị bắt.

            Con trai của ông Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm tử trận, bản thân ông cũng bị thương nặng và rơi vào tay giặc. Quân Pháp tìm cách chữa trị hòng mua chuộc, nhưng ông thẳng thừng từ chối chữa trị vết thương, tuyệt thực để khẳng định tinh thần bất khuất của người Việt Nam trước giặc ngoại xâm. Ông nói: “Bây giờ nếu ta chỉ lay lắt mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.

            Tổng đốc Nguyễn Tri Phương qua đời sau khi tuyệt thực vài ngày. Cái chết của ông khiến người dân Hà Nội càng sục sôi căm thù, nhất tề đứng lên khởi nghĩa chống Pháp, nổi bật là trận Cầu Giấy do Hoàng Tá Viêm và Tôn Thất Thuyết chỉ huy, tiêu diệt Garnier. 

            Pháp buộc phải ký hiệp ước 1874 trả lại Hà Nội và các tỉnh Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định và chỉ lập một cơ quan Công sứ ở Hải Phòng. 






        • Xem thêm về:

        • trắc nghiệm lịch sử

        • lịch sử Việt Nam

        Tin nổi bật













      Detail?Id=2436813&W=000003