Phía sau sự thay đổi ấy là một hành trình chuyển đổi số kéo dài cả thập kỷ của ngành ngân hàng Việt Nam – từ cuộc đua mobile banking, QR code và eKYC, cho tới bài toán dữ liệu, sinh trắc học, AI và xây dựng hạ tầng thanh toán cho nền kinh tế số.

Nhiều người hẳn chưa quên sự kiện Chính phủ “ting ting” 100.000 đồng vào tài khoản người dân nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm ngoái.
Chỉ trong khoảng một tuần, hàng triệu người Việt đồng loạt liên kết tài khoản an sinh xã hội trên VNeID, hàng chục triệu giao dịch được xử lý liên tục, hơn 10.000 tỷ đồng được giải ngân trên phạm vi toàn quốc. Một chiến sách an sinh trên nền tảng số với quy mô chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam.
Nhìn bề ngoài, đó là câu chuyện về món quà ngày Tết Độc lập. Nhưng ở một bức tranh lớn hơn, đây là phép thử quy mô lớn, một bài “stress test” đối với hạ tầng dữ liệu quốc gia, hệ thống định danh điện tử và đặc biệt là năng lực chuyển đổi số của ngành ngân hàng Việt Nam.
Lần đầu tiên, người ta thấy ngân hàng không chỉ phục vụ giao dịch tài chính cá nhân, mà có thể trở thành hạ tầng để Chính phủ triển khai một chính sách công quy mô toàn dân chỉ trong vài ngày. Không chỉ cần tốc độ xử lý giao dịch cực lớn, hệ thống còn phải đảm bảo tính chính xác, hạn chế sai sót, tránh trùng lặp và vận hành ổn định khi lưu lượng tăng đột biến trong cùng thời điểm. Một lãnh đạo ngân hàng lớn từng cho rằng “món quà 100.000 đồng” chính là minh chứng trực quan nhất cho thành quả chuyển đổi số của ngành ngân hàng Việt Nam sau gần một thập kỷ tăng tốc.
Và quả thực vậy. Ngành ngân hàng hiện là một trong những lĩnh vực có tốc độ số hóa nhanh nhất nền kinh tế. Nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận tỷ lệ giao dịch số vượt 95%. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đã xử lý hơn 53,4 triệu giao dịch với tổng giá trị gần 187 triệu tỷ đồng, tăng gần 67% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Đến cuối năm 2025, gần 89% người trưởng thành Việt Nam đã có tài khoản ngân hàng, trong khi giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đã gấp hơn 28 lần GDP.

Đến quý 4/2025, toàn hệ thống có hơn 232 triệu tài khoản tiền gửi thanh toán cá nhân, gấp 5 lần sau 10 năm.

Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng từng định nghĩa chuyển đổi số ngân hàng theo cách “đơn giản và nôm na nhất” là làm sao để người dân có thể thực hiện mọi dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động. Cho tới thời điểm hiện tại, ngành ngân hàng có lẽ đã đi xa hơn rất nhiều so với mục tiêu ban đầu ấy.
Từ giai đoạn tái cấu trúc sau khủng hoảng 2011-2012, nhiều ngân hàng bắt đầu đầu tư mạnh cho Core Banking, ứng dụng số và hạ tầng thanh toán. Giai đoạn 2017-2018 chứng kiến sự bùng nổ của Internet Banking, Mobile Banking, ví điện tử và chính sách miễn phí chuyển khoản, giúp giao dịch số dần trở thành thói quen. Đến Covid-19, chuyển đổi số tăng tốc mạnh mẽ khi người dân quen với mở tài khoản eKYC, thanh toán QR và giao dịch hoàn toàn trên điện thoại. Còn từ năm 2024, trọng tâm của ngành ngân hàng không còn chỉ là tiện ích, mà chuyển sang bài toán dữ liệu và an toàn hệ thống, với chiến dịch sinh trắc học, kết nối VNeID, AI chống gian lận hay thanh toán xuyên biên giới. Giờ đây, ngân hàng số không chỉ phục vụ giao dịch tài chính cá nhân, mà đã dần trở thành hạ tầng vận hành của nền kinh tế số.


Khả năng vận hành trơn tru của hệ thống ngân hàng trong sự kiện “món quà 100.000 đồng” không phải thành quả đến trong một sớm một chiều. Để xử lý khối lượng giao dịch khổng lồ trong thời gian ngắn, ngành ngân hàng thực tế đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước khi liên tục xây dựng hạ tầng dữ liệu, làm sạch thông tin khách hàng và tăng cường bảo mật hệ thống. Một trong những dấu mốc quan trọng nhất là chiến dịch xác thực sinh trắc học được triển khai từ năm 2024.
Trong khoảng 3 năm trở lại đây, khi thanh toán không tiền mặt đã đi sâu vào đời sống, lừa đảo tài chính trực tuyến cũng bùng phát với tốc độ chưa từng có. Từ tài khoản “rác”, SIM rác, thuê – mượn tài khoản ngân hàng cho tới deepfake khuôn mặt, giả mạo nhân viên ngân hàng… tất cả đặt ra một bài toán lớn hơn nhiều so với câu chuyện công nghệ: làm sao để người dân tiếp tục tin vào giao dịch số. 
Bộ phát wifi 4G di động mini ROOSEE M610, chuẩn wifi 6
Phó Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng từng khẳng định: “Nếu người dân không tin tưởng vào sự an toàn của giao dịch số, không tin rằng dữ liệu cá nhân của họ được bảo vệ, không tin rằng các quyết định tài chính được đưa ra minh bạch, công bằng và có trách nhiệm thì mọi thành tựu công nghệ đều không phát huy được giá trị đầy đủ”.
Tuy nhiên, siết bảo mật cũng đồng nghĩa với việc hàng chục triệu khách hàng trên cả nước – từ người trẻ tới người lớn tuổi – phải đồng loạt cập nhật sinh trắc học, quét khuôn mặt, xác thực dữ liệu để tiếp tục giao dịch trực tuyến. Một quy mô triển khai chưa từng có tiền lệ, đến mức ngay cả nhiều ngân hàng thời điểm đó cũng hoài nghi về khả năng thực hiện đồng loạt trong thời gian ngắn.
Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng từng kể lại rằng trước ngày Quyết định 2345 có hiệu lực, vẫn có ngân hàng “chờ quyết định tạm hoãn”, vì không tin hệ thống có thể triển khai đồng loạt đúng hạn. Nhưng cuối cùng, ngành ngân hàng vẫn quyết định đi tới cùng. “Đây là một chiến dịch lớn. Là điều bắt buộc phải làm, không thể khác được”, ông Dũng nhấn mạnh.
Sau gần 2 năm triển khai, chiến dịch sinh trắc học đã tạo ra một thay đổi mang tính nền móng đối với hệ thống ngân hàng. Hơn 163,39 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu sinh trắc học thành công qua CCCD gắn chip và VNeID, bao gồm hơn 161,2 triệu hồ sơ cá nhân và 2,19 triệu hồ sơ tổ chức. Khoảng 154 triệu tài khoản cùng 36 triệu hồ sơ trong cơ sở dữ liệu phòng chống rửa tiền đã được làm sạch. Gần 44,5 triệu hồ sơ tại Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia cũng được chuẩn hóa dữ liệu.
Nói cách khác, ngành ngân hàng đã bắt đầu xây dựng lại toàn bộ “nền móng dữ liệu” của mình theo đúng triết lý mà Ngân hàng Nhà nước nhiều lần nhắc tới: dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”.
Điều đáng chú ý là chiến dịch sinh trắc học không chỉ dừng ở câu chuyện xác thực giao dịch. Nó còn mở đường cho một hệ thống ngân hàng an toàn hơn, có khả năng phòng ngừa rủi ro theo thời gian thực. Một ví dụ là hệ thống SIMO – nền tảng hỗ trợ quản lý, giám sát và cảnh báo rủi ro cho khách hàng do NHNN triển khai. Tính đến tháng 5/2026, hệ thống đã gửi hơn 4 triệu lượt cảnh báo tới khách hàng. Trong đó, hơn 1,3 triệu giao dịch đã được người dùng chủ động tạm dừng hoặc hủy bỏ sau cảnh báo, với tổng giá trị khoảng 4,4 nghìn tỷ đồng.


Sau giai đoạn bứt phá mạnh mẽ trong số hóa dịch vụ tài chính và mở rộng tài chính toàn diện, Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng nhận định “Ngân hàng mà không thấy ngân hàng ở đâu cả – đó chính là mục tiêu tiếp theo mà toàn ngành đang hướng tới”.
Theo lãnh đạo NHNN, triết lý phát triển của ngành ngân hàng trong kỷ nguyên số phải dựa trên ba trụ cột: tiện ích, chi phí hợp lý và an toàn. Trong đó, “tiện” và “lợi” là hai yếu tố quan trọng nhất để người dân sẵn sàng sử dụng dịch vụ số và hình thành thói quen thanh toán không tiền mặt.
Điều này cũng đồng nghĩa, dịch vụ ngân hàng trong tương lai sẽ không còn bó hẹp trong ứng dụng Mobile Banking hay các điểm giao dịch truyền thống, mà được tích hợp sâu hơn vào đời sống hàng ngày. Người dân có thể thanh toán giao thông công cộng, mua sắm, sử dụng dịch vụ công hay tiêu dùng hàng ngày bằng chính tài khoản ngân hàng của mình mà không cần qua nhiều lớp trung gian. 
Mua Hàng với Shopee
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, ngành ngân hàng đang thúc đẩy Open API, ngân hàng mở và tài chính nhúng (embedded finance), cho phép các nền tảng công nghệ, thương mại hay tiêu dùng kết nối trực tiếp với hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành thông tư về Open API, tạo nền tảng pháp lý cho việc kết nối dữ liệu và dịch vụ giữa các bên trong hệ sinh thái số.
Tuy nhiên, khi ngân hàng ngày càng “vô hình”, yêu cầu về an toàn hệ thống và quản trị rủi ro cũng trở nên khắt khe hơn. Sự xuất hiện của AI, tài sản số, stablecoin hay xu hướng mô-đun hóa dịch vụ tài chính đang đặt ra những thách thức hoàn toàn mới cho ngành ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo của chuyển đổi số.
Dù vậy, như lãnh đạo NHNN nhiều lần nhấn mạnh, mục tiêu cao nhất của mọi chính sách hay công nghệ vẫn là phục vụ người dân và doanh nghiệp. Công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp dịch vụ tài chính trở nên thuận tiện hơn, chi phí hợp lý hơn và an toàn hơn trong đời sống hàng ngày.

Khi giao dịch tài chính ngày càng được số hóa và tự động hóa, bài toán tiếp theo của ngành ngân hàng không còn chỉ nằm ở công nghệ hay hạ tầng dữ liệu, mà là con người.
Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng cho biết hiện hơn 90% giao dịch của khách hàng đã được thực hiện qua kênh số. Nhiều quy trình ngân hàng trước đây cần giao dịch viên xử lý thủ công nay đã được hệ thống tự động hóa hoàn toàn. Từ một giao dịch chuyển tiền nhỏ khi mua rau, mua cá ngoài chợ cho tới các giao dịch tài chính quy mô lớn, hệ thống có thể tự động hạch toán và xử lý theo thời gian thực mà gần như không còn sự can thiệp trực tiếp của con người.
Nhưng chính sự thay đổi đó lại đặt ra yêu cầu hoàn toàn mới với ngành ngân hàng.
“Năm xưa cán bộ ngân hàng rất hiểu về kế toán, định khoản, hạch toán. Còn bây giờ, máy tự động hạch toán”, ông Dũng nói. Theo ông, khi mỗi ngày hệ thống tài chính phải xử lý từ 50-100 triệu giao dịch, bài toán lớn nhất không còn là thao tác nghiệp vụ, mà là khả năng kiểm soát hệ thống, quản trị dữ liệu và đảm bảo an toàn công nghệ.
Điều đó buộc các ngân hàng phải tái cấu trúc toàn bộ mô hình vận hành và xây dựng một thế hệ nhân sự hoàn toàn khác trước đây – những người vừa hiểu nghiệp vụ tài chính, vừa am hiểu công nghệ, dữ liệu và AI.
“Ngân hàng nào không làm được điều đó sẽ tự phải rời cuộc chơi”, Phó Thống đốc nhấn mạnh.
Thực tế, sau hơn một thập kỷ tập trung đưa khách hàng lên mobile banking và các kênh số, nhiều ngân hàng Việt Nam đang bước vào một chu kỳ chuyển đổi mới: “đại tu” hệ thống lõi phía sau. Từ core banking, kiến trúc dữ liệu, cloud, data lake cho tới các mô hình AI-native, toàn bộ hạ tầng vận hành đang phải thay đổi để đáp ứng lưu lượng giao dịch tăng bùng nổ và yêu cầu xử lý gần như tức thời.
Điều đó cũng khiến nhân sự ngân hàng thay đổi hoàn toàn so với trước đây. Nếu một thập kỷ trước, nghiệp vụ kế toán – hạch toán là kỹ năng cốt lõi, thì nay các ngân hàng ngày càng cần những đội ngũ vừa hiểu nghiệp vụ tài chính, vừa am hiểu dữ liệu, AI, an ninh mạng và kiến trúc công nghệ.
Nhiều ngân hàng hiện đã coi rủi ro công nghệ thông tin ở mức độ tương đương với rủi ro tín dụng. Các khối dữ liệu, an ninh mạng hay AI dần trở thành bộ phận trọng yếu trong cơ cấu vận hành. Ở một góc nhìn nào đó, nếu thập kỷ vừa qua là cuộc đua số hóa dịch vụ ngân hàng, thì thập kỷ tiếp theo có thể sẽ là cuộc đua về năng lực công nghệ lõi và chất lượng nguồn nhân lực phía sau hệ thống.

Bài viết gợi ý
- Việt Nam nhấn mạnh trọng tâm hợp tác trong Cuộc họp Ủy ban Hợp tác chung ASEAN-Mỹ
Việt Nam nhấn mạnh trọng tâm hợp tác trong Cuộc họp Ủy ban Hợp tác chung ASEAN-Mỹ Đạibiện lâm thời Phái đoànMỹtại ASEAN Joy Sakura khẳng định, ASEAN làmột trong cácđối tác quan trọngchủ chốtcủa Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương,Mỹ tiếp tụcủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN,cùng A...
- Phương án nhà, đất phục vụ tái định cư dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng
- Ông Trump tuyên bố Mỹ sẽ thu hồi kho uranium đã làm giàu của Iran
- Tỷ phú Phạm Nhật Vượng và vợ con tiếp tục mở thêm một công ty phim ảnh mới
- Công văn 5038: Không hoán đổi ngày làm việc để kéo dài lịch nghỉ lễ 30 4 1 5 2026 và Giỗ Tổ Hùng Vương 2026?
- Hơn 300 tấn lợn bệnh tuồn vào trường học, chợ đầu mối: Lo ngại sức khỏe học sinh
- Không Bằng - Văn Mai Hương | Official Music Video | Mây Lang Thang Hà Nội
- Học sinh nhiều tỉnh, thành nhận học bổng sớm từ Trường đại học UEF








